Loading...

Thời hiệu khởi kiện thuộc pháp luật nội dung hay pháp luật tố tụng – Đôi điều kiến nghị

Thứ tư - 25/12/2019 03:11
TƯỞNG DUY LƯỢNG - Nguyên Phó Chánh án TANDTC
Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, lao động đều không quy định về thời hiệu khởi kiện, chỉ khi BLTTDS năm 2004 được ban hành mới quy định rất chung và quy định viện dẫn trong 2 Điều (Điều 159, Điều 160) về áp dụng thời hiệu khởi kiện. Do đó, trong thực tiễn vấn đề áp dụng thời hiệu có có những cách hiểu khác nhau.
thoihieukhoikien
 

1. Vấn đề thời hiệu, thời hiệu khởi kiện trong thực tiễn

Trong khi đó từ trước đến nay thời hiệu khởi kiện các vụ việc dân sự (theo nghĩa hẹp), kinh doanh thương mại, lao động đều được quy định trong pháp luật nội dung; có văn bản luật nội dung quy định nhiều thời hiệu khởi kiện khác nhau tương ứng với mỗi quan hệ pháp luật như Bộ luật Hàng hải.

Trong giáo trình luật dân sự, luật tố tụng dân sự của khoa luật của trường đại học đều đề cập đến vấn đề thời hiệu, thời hiệu khởi kiện. Ví dụ tại mục III chương V giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam của Trường đại học luật Hà Nội ấn hành năm 2017 cũng đề cập đến thời hiệu khởi kiện, tại Giáo trình Luật dân sự Việt Nam của trường này cũng đề cập đến vấn đề thời hạn, thời hiệu và thời hiệu khởi kiện.

Trong thực tiễn xét xử cũng có quan điểm khác nhau, có tòa án coi vấn đề thời hiệu khởi kiện là thuộc phạm trù tố tụng, nếu là phán quyết trọng tài trong nước thì tòa án hủy phán quyết khi Hội đồng xét đơn cho rằng Hội đồng trọng tài áp dụng sai về thời hiệu hoặc không công nhận và cho thi hành, nếu là phán quyết trọng tài nước ngoài với căn cứ là trái nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Ví dụ trong vụ tranh chấp giữa bà Lê Hoàng Hoa Thơm với Công ty Cổ phần tập đoàn Phát triển có nội dung “Bà Lê Hoàng Hoa Thơm yêu cầu tuyên bố vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần ngày 11/01/2011 (viết tắt là “Hợp đồng 2011”) giữa bên bán cổ phần là bà Thơm (nguyên đơn) và bên mua cổ phần là Công ty Cổ phần Tập đoàn Phát Triển (bị đơn).” Tại phán quyết trọng tài số 42/16 HCM ngày 3 tháng 7 năm 2017 của Hội đồng trọng tài thuộc trung tâm trọng tài CTHG đã quyết định: “Bác toàn bộ yêu cầu tuyên Hợp đồng 2011 vô hiệu của bà Lê Hoàng Hoa Thơm”. Sau khi có phán quyết trọng tài bà Thơm yêu cầu Tòa án thành phố HCM hủy phán quyết số 42/16 HCM ngày 3 tháng 7 năm 2017 của Hội đồng trọng tài thuộc trung tâm trọng tài CTHG với lý do: “1.1.Hội đồng trọng tài vận dụng sai quy định về thời hiệu yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được….Hội đồng trọng tài đã bác bỏ quyền khởi kiện hợp pháp của bà Thơm”.

Tại tại Quyết định số 1357/2017/Q Đ-PQTT ngày 29 tháng 9 năm 2017 của TAND Tp HCM, Hội đồng xét xử đã chấp nhận yêu cầu của đương sự với nhận định: “Việc áp dụng thời hiệu của Hội đồng trọng tài được nêu ở Mục 1.3 trang 35 của Phán quyết trọng tài không phù hợp với nguyên tắc áp dụng thời hiệu của BLDS: Hội đồng trọng tài áp dụng Điều 132 của BLDS 2015 để khẳng định thời hiệu là 02 năm là không chính xác. Hợp đồng 2011 có đối tượng không thể thực hiện được theo Điều 411 của BLDS (cụ thể là bà Thơm không sở hữu cổ phần tai TNS nhưng lại bán cổ phần của TNS cho TNG và tại thời điểm bán TNS chỉ có 70.000 cổ phần, trong khi đối tượng mua bán của Hợp đồng 2011 là 520.800 cổ phần). Trong trường hợp hợp đồng vô hiệu theo Điều 411 của BLDS 2005 thì sẽ không áp dụng thời hiệu. Các trường hợp áp dụng thời hiệu 02 năm để yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu tại Điều 136 của BLDS 2005 không bao gồm Điều 411 của BLDS 2005. Trong tố tụng, thời hiệu khởi kiện là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự. Hội đồng trọng tài áp dụng thời hiệu khởi kiện 02 năm trong vụ án là xâm phạm đến nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”. “… Hội đồng trọng tài lại áp dụng Điều 136 của Bộ luật dân sự 2005 để kết luận “Yêu cầu này đã hết thời hiệu khởi kiện là hai năm kể từ ngày xác lập giao dịch, nên Hội đồng trọng tài không nên xem xét yêu cầu này” là xâm phạm đến nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam là nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự, cụ thể ở đây là quyền tố tụng của bà Thảo được quy định tại Điều 9 Bộ luật dân sự năm 2005”.

Tác giả cho rằng việc TAND Tp HCM coi thời hiệu khởi kiện thuộc phạm vi “nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” là nhận thức sai lầm, từ đó hủy phán quyết trọng tài không đúng.

Tuy nhiên, cũng có Tòa án, Viện kiểm sát coi vấn đề thời hiệu khởi kiện là thuộc phạm trù luật nội dung. Ví dụ tại quyết định số 01/2018/Q Đ-PQTT ngày 04-1-2018 của Tòa án nhân dân TPHN giải quyết vụ tranh chấp giữa Công ty SYAP và bị đơn Công ty KEFG.Ltd, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đã cho rằng: “Về thời hiệu khởi kiện mà bên yêu cầu nêu ra đã được H ĐTT xem xét và thuộc về nội dung vụ án nên phiên họp hôm nay không xem xét…Phán quyết trọng tài không vi phạm một trong các trường hợp quy định tại Điều 68 Luật trọng tài thương mại…”. Trong khi đó Công ty KEFG.Ltd cho rằng HĐTT đã xác định thời hiệu khởi kiện không phù hợp với Điều 33 Luật TTTTM, để làm căn cứ hủy Phán quyết trọng tài.

Đối với yêu cầu này, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố HN đã nhận định: “ Thời hiệu khởi kiện không phải là một trong các căn cứ hủy Phán quyết trọng tài theo quy định tại Điều 68 Luật TTTM”. (Vì lý do tế nhị tên đương sự đã được thay đổi-TG).

***
Tại Quyết định số 11/2018/Q Đ-PQTT ngày 12 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố HN về việc không hủy phán quyết trọng tài cũng đã nhận định về vấn đề thời hiệu khởi kiện không thuộc quan hệ tố tụng mà thuộc luật nội dung với lập luận: “[8] thời hiệu khởi kiện …thuộc phần nội dung vụ tranh chấp. Thời hiệu khởi kiện cũng không phải là một trong các nguyên tắc cơ bản được quy định trong pháp luật Việt Nam. Do đó, yêu cầu hủy Phán quyết trọng tài của bên yêu cầu không thuộc các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại.”

Trong nhiều vụ bên yêu cầu không công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài hoặc yêu hủy phán quyết trọng tài trong nước với lý do Hội đồng trọng tài đã quyết định sai về thời hiệu khởi kiện. Việc Hội đồng trọng tài cho rằng hết thời hiệu khởi kiện để bác yêu cầu làm mất quyền tố tụng của đương sự, vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật việt nam thì TAND thành phố HN đã cho rằng thời hiệu khởi kiện thuộc luật nội dung điều chỉnh, không phải vi phạm về tố tụng, không thuộc quan hệ tố tụng. Khi xét xử Tòa án căn cứ khoản 4 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại để không chấp nhận yêu cầu của đương sự với nhận định Tòa án không giải quyết lại nội dung tranh chấp, từ đó không chấp nhận yêu cầu hủy phán quyết hoặc áp dụng khoản 4 Điều 458 BLTTDS năm 2015 bác yêu cầu của đương sự về việc không công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài về lý do này.

Có thể nhận thấy nếu chỉ có một hình thức tài phán là tài phán công thì vấn đề xác định thời hiệu khởi kiện là thuộc phạm trù luật tố tụng hay luật nội dung chỉ có ý nghĩa về lý luận, không có nhiều ý nghĩa thực tiễn. Bởi lẽ trong tố tụng dân sự việc áp dụng sai về thời hiệu trong các vụ án dân sự, kinh doanh thương mại… làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích các bên, khi có kháng cáo, kháng nghị Tòa án đều phải áp dụng pháp luật nội dung quy định về thời hiệu, thời hiệu khởi kiện để giải quyết lại theo hướng sửa hay hủy bản án, quyết định của tòa án theo tố tụng dân sự, còn nếu Hội đồng xét xử đã áp dụng đúng thì không chấp nhận yêu cầu. Tuy nhiên, khi khi đất nước ta hội nhập vào nền kinh tế thế giới thì việc công nhận và cho thành phán quyết trọng tài nước ngoài, tạo môi trường hoạt động cho tài phán tư phát triển, đa dạng hóa hình thức giải quyết tranh chấp, sớm kết thúc việc tranh chấp góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng thì vấn đề thời hiệu nói chung, thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự thuộc pháp luật tố tụng hay thuộc luật nội dung là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Nếu xác định thời hiệu khởi kiện là luật tố tụng hay luật nội dung sẽ dẫn đến những hậu quả khác nhau trong hoạt động tài phán.

Ví dụ khi xác định thời hiệu khởi kiện là quan hệ tố tụng, thì việc Hội đồng trọng tài xác định sai thời hiệu khởi kiện sẽ là cơ sở để tòa án hủy phán quyết trọng tài, hoặc không công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài. Ngược lại nếu coi thời hiệu khởi kiện thuộc luật nội dung điều chỉnh thì những sai lầm đó, nếu một bên nêu ra làm căn cứ cho việc không công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài tòa án căn cứ vào khoản 4 Điều 458 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để bác yêu cầu đương sự, công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nướ